nhac

http://soundcloud.com/you/tracks

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢNG DẠY MÔN ĐỊA LÍ

Hiện nay việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy là rất phổ biến, tuy nhiên đôi khi chúng ta quá lạm dụng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, …..

Chi tiết xem ở đây 

GIẢM CÂN KHÔNG CẦN THỂ DỤC

Bạn không hài lòng với cân nặng và mong mình giảm đi vài cân ? Đây là những giải pháp hữu hiệu dành cho bạn .

Theo một nghiên cứu kéo dài 4 năm đã đăng trên tờ Daily Mail  , cả vợ và chồng sẽ thấy hài lòng với cuộc hôn nhân nếu người vợ gọn gàng , thon thả , . người phụ nữ cũng thấy tự tin hơn vì biết người chồng vẫn yêu chiều họ . bạn có thể áp dụng các cách dưới đây để lấy lại vóc dáng .

KHIÊU VŨ :   Chỉ cần 15 phút với các động tác xoay vòng  có thể tiêu hao 100 kilocalorie .

LAO DỌN NHÀ CỬA :  Đừng nghĩ dọn dẹp nhà cửa là một trách nhiệm vì động tác lao sàn nhà , bồn rửa , phơi đồ , thay drap giường  … sẽ đốt cháy ít nhất 143 kilocalorie .

LÀM VƯỜN :  Đối với nhiều người ,làm vườn quả là cực nhọc vì phải xới đất trồng cây , tưới và chăm sóc …nhưng cứ 15 phút bận rộn , bạn có thể đốt cháy ít nhất 100 kilocalorie .

ĐI BỘ :  Chỉ cần 15 phút đi bộ nhanh ( đi chợ ) giúp cơ thể đốt cháy 100 kilocalorie  mà còn tiết kiệm được xăng .

CHUYỆN PHÒNG THE : Đó không chỉ là niềmhạnh phúc  , nhu cầu , mà còn giữ được vóc dáng vì đốt cháy 100 kilocalorie cứ sau 15 phút cho chuyện ấy .

CHƠI BOWLINH  : Mỗi giờ đồng hồ cho trò chơi này bạn có thể đốt cháy cả trăm kilocalorie .

RỬA XE : Từ nay nếu rỗi rãnh bạn nên thường xuyên rửa xe hoặc lao xe vừa thể hiện mình tiết kiệm tiền mà còn giữ vóc dáng gọn gàng .

ĐI CẦU THANG :  Bước lên xuống cầu thang khoảng 15 phút  có thể đốt cháy 100 kilocalorie và tạo cho mình tác phong nhanh nhẹn khi làm việc .

TTMT

HÌNH ẢNH

CÂY MÍA NGỌT LÀNH

                   CÂY MÍA NGỌT LÀNH

Cây mía thường có mặt trong góc vườn của nhiều gia đình ViệtNam. Mía là một món ăn vặt , món giải khác thơm mát .

Không chỉ làm nước giải khát , mía còn được mênh danh phục mạch thang của tự nhiên , đem lại nhiều lợi ích tốt cho sức khỏe con người .

* MIA VÀ CÔNG DỤNG CHŨA  BỆNH .

Mía vốn có nguồn gốc từ Ấn Độ , nhưng hiện nay là phổ biến ở khắp nơi trên thế giới . Ở ViệtNammía được trồng nhiều ở các tỉnh : QuảngNam, Quảng Ngãi , Hòa Bình , Vĩnh Phúc và rãi rác ở tất cả các tĩnh khác .

Cây mía là nguyên liệu chính để sản xuất đường mật , chế thuốc và rượu . Ngoài ra , người dân còn tiêu thụ mía dưới dạng đơn giản là ăn thô hoặc ép nước uống . Cả hai dạng đều đem lại lợi ích tốt cho sức khỏe . Theo Đông y , nước mía giàu năng lượng và có tác dụng tiêu đờm , giài khác bổ dưỡng cho cơ thể . Thành phần chính trong nước mía tươi là đường saccharose , vitamin C ,B1 ,B2 , B6 . Bên cạnh đó , nước mía còn chứa nhiều khoáng chất quan trọng cho cơ thể như : canxi , sắt , phot pho , và các axít hữu cơ như axítmalic, axítcitric .

Theo các nghiên cứu , 100g nước mía chứa khoản 84 calo , không chứa chất béo , chỉ số đường huyết thấp và không có cholesterol nên rất an toàn với người mắc bênh tiểu đường  . Tuy nhiên người đái tháo đường type 2 nên hạn chế sử dụng .

Với người giảm cân nước mía là một thực phẩm tốt . Nước có thể giúp người giữ lượng đường trong máu ổn định , ngăn chặn cảm giác thèm ăn các thự phẩm khác , dẫn đến tăng cân .

Một nghiên cứu của đại học Sao Paulo tại Brazil vào năm 2006 phát hiện nước ép mía giàu flavonoid và họp chất phenolic. Hai chất này có hoạt động giống như chất chống ô-xy hóa . các họp chất trên có thể làm giảm sự phá hủy của các tế bào ,ngăn ngừa sự phát triển của các bệnh như ung thư , tim mạch .

Một số tài liệu khác cho thấy nước mía còn giúp thể chiến đấu chống lại ung thư , đặc biệt là ung thư tuyến tiên liệt và ung thư vú . Chúng còn phát huy tác dụng trong việc ngăn ngừa và điều trị một số bệnh thường gặp là đau họng , cảm lạnh , cúm  . Những người bệnh sốt nên uống nước mía để bù lại năng lu8ng5 mà cơ thể đã mất .

Với hàm lượng kali cao , mía được xem là thực phẩm có ích cho hệ tiêu hóa . người ta ví mía giống như một loại thuốc nhuận tràng , giúp bạn

nhanh chóng giải quyết được những vấn đề ở hệ tiêu hóa như táo bón , ăn vào nôn ra .

Ngoài ra , mía cũng là thuốc bổ  , giúp tang cường chức năng của dạ dày , thận , tim , mắt , não và cơ quan sinh dục . nếu làm việc trong môi trường có nhiệt độ cao hoặc hoạt động thể chất kéo dài , bạn đừng quên tiếp sức bằng một ly nước mía . Nhờ lượng carbohydrate cao , loại nước mía ngọt ngào này sẽ nhanh chóng cung cấp năng lu8ơng cho cơ bắp , đem lại cho bạn cảm giác khỏe mạnh sảng khoái và thư giản hơn .

Mật mía là nguồn cung cấp chất sắt vô cùng phong phú cho cơ thể . chúng không gây ra các vấn đề táo bón hay tiêu hóa khác như khi bạn uống thuốc bổ sung sắt . chất sắt thúc đẩy quá trình sản xuất hồng cồng , điều trị thiếu máu . Ăn hoặc uống nước mía cũng là cáh bổ sung sắt  và vitamin B rất tốt cho phụ nữ mang thai .

Đặc biệt mía còn có thể tạo ra chất coenzyme O – 10 . Chúng có chức năng như một chất chống ôxy hóa ở màng tế bào . Coenzyme Q – 10 rất quan trọng đối với hoạt đ6ng5 của tim , gan , tuyến tụy và thận . Chúng góp phần điều trị các vấn đề súc khỏe ở đông mạch vành , đặc biệt là bênh suy tim sung huyết .

* MỘT SỐ CÁCH SỬ DỤNG MÍA HIỆU QUẢ

_  Viêm dạ dày mãn tính : Dùng một ly nước ép mía và 1 ly rượu nho trộn đều , uống ngày 2 lần vào buổi sáng tối .

_   Phụ nũ mang thai do ốm nghén :  ép lấy nước mía cho thêm ít gừng tươi .

_   Ho , viêm họng , khô miệng ; Nấu cháo bằng gạo nếp chín cho nước mía vào khuấy đều rồi ăn .

( Nếu đã ăn cua , không dùng mật mía vì dễ ngộ độc )

TTMT

THAM LUẬN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢNG DẠY Môn : Địa lí

                                           THAM LUẬN

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

TRONG GIẢNG DẠY

Môn : Địa lí

*****

I/ THỰC TRẠNG:

– Là một trường đạt chuẩn quốc gia năm 2010,, trường nằm ở vùng sâu đa số học sinh là con em có hoàn cảnh còn khó khăn nên điều kiện được tiếp xúc với CNTT của các em học sinh là rất hạn chế.

– Nhiều giáo viên trình độ Tin học, kỹ năng sử dụng máy tính và các phương tiện hỗ trợ còn gặp nhiều khó khăn trong soạn giảng.

–  Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy học, đặc biệt là phục vụ cho việc dạy tin học và ứng dụng CNTT của nhà trường đã được trang bị khá đầy đủ . Tuy nhiên các phòng học bộ môn còn thiếu chỉ có các phòng thực hành ; số máy tính phục vụ cho học tin học của học sinh đảm bảo theo qui định (có 01 phòng với 25 máy tính).

II/ TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

– Hiện nay, công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ và đi vào mọi lĩnh vực của đời sống. Đặc biệt, trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học, việc áp dụng công nghệ thông tin góp phần hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo hướng tích cực hoá.

– Xác định mục tiêu đích của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là:  Nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho học sinh, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao, khắc phục tình trạng “thầy đọc, trò chép”, học sinh được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình.

– Việc sử dụng giáo án điện tử trong dạy học đã được thực hiện trong các năm qua .Ban đầu chỉ là một số tiết dạy mẫu, nhưng với sự nỗ lực và quyết tâm cao, đến nay tôi đã thường xuyên sử dụng các thiết bị hiện đại này trong giảng dạy. Trong các buổi sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn định kì, việc thảo luận về phương pháp dạy học, những nội dung kiến thức và ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy luôn là những vấn đề được mọi người đặc biệt quan tâm. Với điều kiện cơ sở vật chất khá tốt, 01phòng trình chiếu đã trang bị đầy đủ các thiết bị cần thiết, như máy tính được nối mạng Internet,  …Những giờ học có sử dụng giáo án điện tử đã đạt hiệu quả tốt, được nhà trường đánh giá cao. Đặc biệt trong giảng dạy Địa lí, tôi đã tạo được sự hứng thú học tập cho các em đối với bộ môn và tứ đó làm cho các em học sinh yêu thích môn học nhiều hơn.

– Bản thân giáo viên phải thường xuyên cập nhật kiến thức về chuyên môn và tin học. Đặc biệt, khi bắt tay vào một vào soạn có ứng dụng công nghệ thông tin, giáo viên thực sự bị cuốn hút và càng làm nhiều thì càng nảy sinh nhiều ý tưởng, từ đó lòng yêu nghề và sự sáng tạo cũng được bồi đắp thêm.

III/ GIẢI PHÁP ĐỂ  THỰC HIỆN VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢNG DẠY ĐỊA LÍ:

1/ Để có thể áp dụng thành công việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, trước hết giáo viên cần nắm vững một số kỹ năng cơ bản nhất để soạn giáo án và thiết kế từng bước lên lớp một cách hợp lí và hiệu quả nhất . Các kỹ năng cơ bản cần nắm như:  Kỹ năng soạn thảo văn bản bằng MS Word; Kỹ năng soạn và trình chiếu trên PowerPoint ; sử dụng một số phầm mềm hỗ trợ để chuyển đổi tư liệu vào bài giải; Kỹ năng sử dụng mạng Internet để để trao đổi và tìm kiếm thông tin trên mạng; Sử dụng email để trao đổi thư từ với đồng nghiệp ; …

2/ Thiết kế bài giảng:

– Để soạn một tiết giáo án điện tử có thể ưng ý sẽ mất rất nhiều thời gian, Đây là bước rất quan trọng quyết định thành công của một tiết dạy. Để có được một tiết bài giảng trên máy vi tính thật hoàn hảo đòi hỏi người giáo viên phải suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo nhằm đảm bảo tính khoa học, chính xác và lôgíc cao.

a/ Nội dung:

– Thiết kế bài giảng trên máy vi tính phải phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, phải kết hợp lời giảng, sự trình diễn của GV với sự theo dõi của học sinh một cách thích hợp, thuận tiện. Khi soạn bài, GV cần cố gắng đưa kiến thức muốn truyền đạt đến HS bằng con đường ngắn nhất, dể khắc sâu nhất. Trong bài soạn, giáo viên cần gợi mở nhiều ý tưởng để HS tìm tòi, sáng tạo, gây sự hứng thú giúp cho việc hiểu bài sâu hơn.Tạo điều kiện, khai thác tối đa tính năng, tác dụng của phương tiện.

– Thiết kế bài giảng cần có  tính linh hoạt trên máy vi tính, thể hiện sự thuận lợi, phù hợp với các Slide khác nhau trong quá trình dạy học, khi cần thay đổi, chuyển slide ta có thể dễ dàng thực hiện nhưng phải bảo đảm tính chính xác, khoa học. Bài giảng trên máy tính là nguồn tài liệu đáng tin cậy cho người dạy, người học, do đó cần tranh thủ sự đóng góp của bạn bè, đồng nghiệp và cũng cần bổ sung, cập nhật tư liệu cho hay hơn, phù hợp hơn. Thiết kế bài giảng trên  máy vi tính là sự kết hợp hài hoà giữa phương tiện truyền thống (phấn, bảng) và phương tiện hiện đại (máy chiếu, máy vi tính), hoạt động của thầy và trò…Đừng chỉ chăm chút phương pháp hiện đại mà xem thường, quay lưng đi với phương pháp truyền thống

* Khi thiết kế bài giảng nội dung cần phải đảm bảo các yêu cầu:

+ Chính xác về khoa học bộ môn, về quan điểm tư tưởng.

+  Đủ nội dung cơ bản và đáp ứng đầy đủ mục tiêu bài học; có tính hệ thống; nhấn mạnh đúng trọng tâm.

+ Liên hệ thực tế phù hợp và có tính giáo dục; có sử dụng tài liệu minh họa cho bài giảng điện tử  (văn bản, phim, âm thanh, phần mềm hỗ trợ…) chính xác, có ý nghĩa, sát với nội dung bài học, đúng lúc, đúng thời lượng.

          b/ Phương pháp:

– Phương pháp dạy học phù hợp với đặc trưng bộ môn, với nội dung của kiểu bài lên lớp.

– Kết hợp tốt các phương pháp trong hoạt động dạy và học; kết hợp tốt việc ứng dụng CNTT với các phương pháp dạy học phù hợp với nội dung của kiểu bài lên lớp.

-Tổ chức hợp lý việc trình chiếu, minh họa với việc tổ chức hoạt động học tập, rèn luyện theo tổ, nhóm; điều khiển học sinh đóng góp xây dựng bài; tạo điều kiện cho học sinh tương tác với bài giảng điện tử.

* Cần xem xét sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa việc sử dụng phương pháp đặc thù của bộ môn; tránh việc xem ứng dụng CNTT là một phương pháp dạy học mới bởi vì ứng dụng CNTT chỉ giúp hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy-học . ví dụ có nhiều trường hợp cần tới tổ chức hoạt động học tập cá nhân và nhóm thì giáo viên lại trình chiếu powerpoint theo kiểu dạy học đồng loạt.

c/ Phương tiện và kĩ thuật soạn trên PowerPoint:

– Cần kết hợp tốt việc sử dụng phương tiện cho bài giảng điện tử và các phương tiện, thiết bị dạy học khác phù hợp với nội dung của kiểu bài lên lớp (khi cần thiết) như: Có các câu hỏi tương tác với bài học thông qua bài tập thực hành: Các câu hỏi được xây dựng nhằm kích thích tính động não của người học, thực hiện phương châm lấy người học làm trung tâm, chú trọng tính chủ động ; Có nguồn tư liệu phong phú liên quan đến bài học, tài liệu tham khảo để mở rộng thêm nhưng trích dẫn có thời lượng thích hợp.

– Phối hợp nhịp nhàng giữa trình chiếu với ghi bảng, ghi vở, ăn khớp giữa các slides với lời giảng, giữa hoạt động của thầy – trò với tiến trình bài dạy. Dù  trên bài giảng điện tử có bố trí những slides; hoặc trên những slides có bố trí những chỗ để trình bày nội dung chính cho học sinh ghi, nhưng bảng cũng phải là nơi để giáo viên minh họa, mở rộng thêm những điều không có trong sách giáo khoa hoặc giải thích những thắc mắc của học sinh, là nơi để học sinh trình bày bài tập của mình .

– Nhịp độ trình chiếu và triển khai bài dạy vừa phải, phù hợp với sự tiếp thu của phần đông học sinh. Học sinh theo dõi kịp và ghi vở kịp.

– Hình và chữ phải rõ, nét; cỡ chữ đủ lớn để xem; gọn lời, trình bày đẹp và có tính trực quan, thể hiện nổi bật được kiến thức.

– Các hiệu ứng hình ảnh, màu sắc, âm thanh, chuyển động được sử dụng có mức độ, hợp lý, không bị lạm dụng, không quá tải đối với học sinh, không gây nhiễu loạn làm mất tập trung vào bài học. Các hiệu ứng không làm học sinh phân tán chú ý, không quá nhiều, sử dụng có cân nhắc đến ảnh hưởng bất lợi của nó. Ví dụ: Con chữ xuất hiện lẻ tẻ, rời rạc, chuyển động bay bướm, vòng vèo, chậm chạp; các dòng chữ chuyển động quá cầu kỳ hoặc rời rạc, lừ đừ; màu sắc sặc sỡ, loè loẹt; âm thanh ồn ào chói tai khi chuyển slide hoặc đánh dấu trắc nghiệm. Phối màu không khoa học khiến các dòng chữ mờ nhạt, khó nhìn.  Ví dụ: Hình ảnh và màu sắc làm nền sặc sỡ / chữ màu vàng nhạt; hoặc nền màu vàng nhạt / chữ màu vàng / nâu, khó thấy chữ.

– Giáo viên làm chủ được kỹ thuật, thao tác nhuần nhuyễn, trình chiếu không trục trặc.

– Khoa học trong cách thiết kế, trình bày. Các slides không quá nhiều (bình thường ≤ 30 slides /1tiết), được thiết kế khoa học, phù hợp với đặc trưng bộ môn,

có tác dụng giúp học sinh suy nghĩ, tìm tòi, khám phá, luyện tập.

– Có bố trí những slides để trình bày nội dung cho học sinh ghi. Các slides này thường được thiết kế với màu nền, màu chữ khác với các slides khác.

IV/ KẾT LUẬN:

– Ứng dụng CNTT trong dạy-học không phải là một phương pháp mới mà chỉ là sự hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy-học bằng các công cụ, phương tiện CNTT. Do đó điều cần tránh là tuyệt đối không thể đồng nhất việc thực hiện tiết dạy có ứng dụng CNTT với bài trình chiếu powerpoint đơn thuần.

– Cần tránh việc lạm dụng ứng dụng CNTT mà không xem xét kĩ những nội dung nào cần thiết và khi nào cần thiết, hoặc loại bỏ hẵn những phương tiện khác.

– Cần tránh việc chuyển từ “đọc-chép” sang “nhìn-chép”.

– Việc ứng dụng CNTT trong một tiết dạy-học không có nghĩa là thời lượng toàn bộ tiết dạy-học chỉ dành duy nhất cho ứng dụng CNTT. Giáo viên cần linh hoạt sử dụng phương tiện CNTT hay phương tiện truyền thống khác trong tiết dạy-học khi nào xét thấy cần thiết và hiệu quả .

– Tôi viết tham luận này thông qua những việc đã làm của bản thân mình cùng với sự tham khảo thêm tài liệu, từ ý kiến của các bạn đồng nghiệp nhằm trao đổi về một phương pháp dạy học có sự hổ trợ của những phương tiện nghe nhìn hiện đại ( máy vi tính, projetor,… ). Nhưng đặc biệt trong bài viết này tôi muốn đem đến một nguồn động viên cho các đồng nghiệp rằng học tin học để sử dụng được máy tính trong công việc giảng dạy là không khó lắm. Mong các bạn sẽ cố gắng và đạt được kết quả. Kiến thức về ứng dụng CNTT của tôi còn hạn hẹp, tôi cần phải học hỏi thêm nhiều. Mong các đồng nghiệp có đóng góp, giúp đỡ để tôi học hỏi nhiều hơn.

V/ ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ:

– BGH trường cần tạo điều kiện cho giáo viên tiếp tục bồi dưỡng nâng cao trình độ tin học và kỹ năng ứng dụng CNTT để giáo viên áp dụng vào giảng dạy .

– BGH Tham mưu đầu tư mua sắm thêm máy chiếu để trang bị phục vụ thật tốt cho giáo viên dạy giáo án điện tử trong thời gian tới.

– Tăng cường việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giảng dạy: sử dụng các  phần mềm do Bộ GD & ĐT cung cấp, soạn giảng bài giảng điện tử, khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên trên internet…nhằm phát huy hiệu quả của công tác thông tin liên lạc qua email, mạng internet.

– Tổ chức hội thảo chuyên đề cấp trường về ứng dụng CNTT trong dạy học.

Trên đây là báo các tham luận về ứng dụng công nghệ thông tin trng giảng dạy môn địa lí của bản thân tôi . Rất mong được sự đóng góp của đồng nghiệp để hoàn thành nội dung tốt hơn.

                                                         Phú Long, ngày 29 tháng 11 năm 2011

                                                                                   Người viết

THAM LUẬN CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI Môn : Lịch Sử .

THAM LUẬN

CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI

Môn : Lịch  Sử .

*****

I/ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG HSG BỘ MÔN LỊCH SỬ Ở NHÀ TRƯỜNG:

– Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi (HSG) các môn văn hóa là một công tác mũi nhọn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, tạo nguồn lực, bồi dưỡng nhân tài cho nhà trường nói riêng, cho địa phương nói chung.

– Trong những năm gần đây công tác nhà trường đã xác định rõ vai trò của công tác giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi các khối lớp nên đã đề ra kế hoạch và phân công cụ thể ngay từ đầu năm học. Bồi dưỡng HSG là một công việc khó khăn và lâu dài, đòi hỏi nhiều công sức của thầy và trò. Hàng năm, qua các kỳ thi HSG vòng huyện, vòng tỉnh tôi đã gặt hái được những thành công nhất định góp phần vào kết quả thi HSG chung của toàn trường, của địa phương.

II/ ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH:

     1. Thuận lợi:

– Được sự chỉ đạo, quan tâm sâu sát và kịp thời của BGH, có những kế hoạch cụ thể, lâu dài trong công việc bồi dưỡng HSG.

– Trường có cơ sở vật chất khá khang trang, trang thiết bị phục vụ tương đối đầy đủ giúp cho việc dạy và học đạt kết quả tốt.

– Giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, có nhiều kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng HSG nhiều năm liền, tôi thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp khác để tìm phương pháp và tài liệu phù hợp để giảng dạy đạt hiệu quả cao.

– Chất lượng học sinh tương đối đồng đều, đa số có ý thức học tập tốt và có ý thức phấn đấu vươn lên.

    2. Khó khăn:

– Đa số giáo viên dạy bồi dưỡng vừa phải bảo đảm chất lượng đại trà, vừa phải hoàn thành chỉ tiêu chất lượng mũi nhọn và công tác kiêm nhiệm do đó cường độ làm việc quá tải và việc đầu tư cho công tác bồi dưỡng HSG cũng có phần bị hạn chế.

– Học sinh học chương trình chính khóa phải học quá nhiều môn, lại phải học thêm những môn khác, cộng thêm chương trình bồi dưỡng HSG nên rất hạn chế về thời gian tự học nên các em đầu tư ít thời gian cho việc học bồi dưỡng HSG, do đó kết quả không cao là điều tất yếu.

. – Đa số các em cho đây là môn phụ không phải là những môn thi tuyển sinh nên các em không muốn tham gia đội tuyển HSG.

– Giáo viên dạy bồi dưỡng đều phải tự soạn chương trình dạy, theo kinh nghiệm của bản thân, theo chủ quan, tự nghiên cứu, tự sưu tầm tài liệu.

III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI:

 

          1/ Đối với Ban giám hiệu:

– Cần phải phân công chuyên môn một cách hợp lý, lựa chọn giáo viên có năng lực chuyên môn giỏi, có kinh nghiệm, tinh thần trách nhiệm, cố gắng phân công theo hướng ổn định để phát huy kinh nghiệm của giáo viên.

– Phát hiện và xây dựng nguồn bắt đầu từ lớp 6, cử giáo viên có kinh nghiệm dạy bồi dưỡng, tổ chức học 2-3 buổi/tuần (trái buổi học chính khóa).

– Cần tạo mọi điều kiện cho giáo viên tham gia các lớp học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ .

– Có những chế độ động viên, khuyến khích khen thưởng đối với giáo viên và học sinh tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi.

          2/ Đối với giáo viên dạy bồi dưỡng:

Qua một thời gian tham gia công tác bồi dưỡng HSG, tôi nhận thấy để nâng cao chất lượng trong công tác này cần thực hiện tốt những công việc sau đây:

– Muốn có HSG phải có Thầy giỏi vì thế người thầy phải luôn luôn có ý thức  tự rèn luyện, tích lũy tri thức và kinh nghiệm, trau dồi chuyên môn, luôn xứng đáng là “người dẫn đường tin cậy” cho học sinh noi theo.

– Trong công tác BDHSG khâu đầu tiên là khâu tuyển chọn học sinh  khâu này rất quan trọng . Phải dựa trên cơ sở bài khảo sát chất lượng đầu  năm, các giờ học trong những tuần đầu đối với học sinh khối 9 và kết quả học của bộ môn ở lớp 8. Tôi lựa chọn những học sinh yêu thích thật sự bộ môn Lịch sử .

– Bước tiếp theo, sau khi lựa chọn được học sinh tôi lập kế hoạch cho mình một cách cụ thể tránh tình trạng thích đâu dạy đó.

* Về chương trình bồi dưỡng:

– Tôi biên soạn chương trình, nội dung bồi dưỡng rõ ràng,cụ thể , chi tiết cho từng khối, lớp ,về từng mảng kiến thức rèn luyện các kỹ năng ngôn ngữ theo số tiết quy định nhất định .

– Xác định rõ trọng tâm kiến thức giảng dạy cho từng khối lớp để tránh trùng lập. Chương trình bồi dưỡng cần có sự liên thông trong suốt 4 năm liền (từ lớp 6 đến lớp 9 )

* Tài liệu BD:

– GV Sưu tầm các bộ đề thi các cấp  trong tỉnh nhà và các tỉnh khác thông qua công nghệ thông tin nhằm giúp các em  tiếp xúc làm quen với các dạng đề , luôn tìm đọc, tham khảo các tài liệu  hay để hướng cho học sinh.

– Giáo viên hướng dẫn học sinh các tài liệu, sách vở, băng đĩa phù hợp với trình độ của các em để tự rèn luyện thêm ở nhà. Đồng thời cung cấp hoặc giới thiệu các địa chỉ trên mạng để học sinh có thể tự học, tự nghiên cứu, bổ sung kiến thức.

* Về thời gian bồi dưỡng:

– Để chương trình BDHSG có hiệu quả nhà trường có kế hoạch BDHSG ngay từ ở khối 8 trong hè, liên tục và đều đặn, không dồn ép ở tháng cuối trước khi thi.

3/ Đối với học sinh:

– Phải nhận thức đúng về tầm quan trọng của học tập.

– Phải yêu thích môn học, say mê trong học tập và ham học hỏi.

– Phải cần cù tích luỹ và chăm chỉ rèn luyện, ngoài đọc sách giáo khoa, học sinh cần đọc thêm sách tham khảo và tài liệu khác.

4/ Đối với phụ huynh:

– Quan tâm tạo điều kiện, động viên tích cực con em học tập tốt hơn.

– Trang bị đầy đủ dụng cụ học tập.

– Thường xuyên liên lạc với giáo viên, nhà trường để nắm tình hình học tập của con mình.

Tôi nghĩ rằng, kết quả công tác bồi dưỡng học sinh giỏi có đạt hay không, còn phụ thuộc rất lớn ở các em học sinh.

IV/  ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ:

Để hỗ trợ cho công tác bồi dưỡng HSG có hiệu quả, các cấp quản lý cũng cần quan tâm đặc biệt và có những biện pháp:

– Ưu tiên nhận học bổng của các tổ chức, đoàn thể đối với học sinh đạt giải .

– Quan tâm, theo dõi và đáp ứng các nghiên cứu chính đáng của giáo viên và học sinh về phòng học, mua tài liệu, photo bài học, bài tập làm trên lớp cũng như ở nhà.

Trên đây là báo các tham luận về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử của bản thân tôi . Rất mong được sự đóng góp của đồng nghiệp để hoàn thành nội dung tốt hơn.

                                                         Phú Long, ngày 28 tháng 11 năm 2011

                                                                                   Người viết

Trần Thị Mộng Thường

Previous Older Entries